Cuộc Đời Và Giáo Pháp Của Tsongkhapa
Tập hợp này chọn một số tác phẩm quan yếu của Đại Đạo Sư Tsongkhapa Losang Drakpa (1357–1419), dâng tặng độc giả thường thức cũng như hành giả Phật pháp, hầu giúp họ có cái nhìn khởi đầu về cuộc đời chuyển hóa và giáo pháp thâm diệu của bậc Đại Lạt Ma ấy.
Tinh túy thành tựu vĩ đại của Tông-khách-pa là chứng đắc phi nhị nguyên tính bản chất của thực tại, trong đó tuệ giác phê phán và trực cảm của Ngài chứng ngộ sự tương đồng giữa tánh Không và duyên khởi. Sự phi nhị nguyên triệt để này ngăn hành giả bị kẹt trong khoảng không trống rỗng như “tuyệt đối,” “niết bàn,” “hư không,” v.v.
260.000 ₫
Cuộc Đời Và Giáo Pháp Của Tsongkhapa
Giới thiệu:
Tập hợp này chọn một số tác phẩm quan yếu của Đại Đạo Sư Tsongkhapa Losang Drakpa (1357–1419), dâng tặng độc giả thường thức cũng như hành giả Phật pháp, hầu giúp họ có cái nhìn khởi đầu về cuộc đời chuyển hóa và giáo pháp thâm diệu của bậc Đại Lạt Ma ấy.
Tinh túy thành tựu vĩ đại của Tông-khách-pa là chứng đắc phi nhị nguyên tính bản chất của thực tại, trong đó tuệ giác phê phán và trực cảm của Ngài chứng ngộ sự tương đồng giữa tánh Không và duyên khởi. Sự phi nhị nguyên triệt để này ngăn hành giả bị kẹt trong khoảng không trống rỗng như “tuyệt đối,” “niết bàn,” “hư không,” v.v. Khi quay lại, họ không đánh mất năng lực từ bi phổ quát đối với tất cả chúng sinh trói buộc. Với Tông-khách-pa, chủ đề trung tâm bất biến là sự hợp nhất bất khả tư nghì giữa trí tuệ siêu việt và bi tâm dấn thân, tự nhiên khiến bậc giác ngộ tự phát phụng sự chúng sinh khổ lụy, chứ không làm “chúa tể” của họ. Ngài hiểu rằng chư Phật có thể an trú niết bàn thường trụ mà vẫn hân hoan dấn thân cứu độ chúng sinh vô minh. Sự hợp nhất ấy có thể đáng kinh khiếp với kẻ nhút nhát, như Long Thụ (Nāgārjuna) gọi đó là “đáng sợ với kẻ khiếp nhược” — vì tánh Không là thai tạng của Đại Bi, đạo trình giác ngộ thâm sâu. Giáo pháp Tông-khách-pa đôi lúc gây xáo động ở tầng sâu đó, song chủ yếu rất lợi ích cho học giả, hành giả mọi tông phái Tây Tạng, nhờ chủ nghĩa nhân văn thâm sâu, niềm tin vào khả năng con người đạt tri kiến và đại bi, an lập đời sống dựa trên từ ái, lợi lạc. Nhờ thế, giáo huấn Ngài chứng minh sự trường tồn của Phật, vị cứu hộ thoát mê hoặc tham sân si, và nghệ thuật, khoa học giải thoát mà Ngài truyền trao.
Tác giả:
Đại sư Tsongkhapa (1357–1419), còn được biết đến với tên gọi Je Tsongkhapa, là một trong những vị đại hành giả và học giả Phật giáo nổi tiếng trong lịch sử Tây Tạng. Ngài là người sáng lập phái Gelug (Cách Lỗ), một trong bốn truyền thống chính của Phật giáo Tây Tạng, và có ảnh hưởng sâu rộng đến hệ thống giáo lý, triết học, cũng như phương pháp tu tập của Phật giáo vùng này.
Tsongkhapa nổi tiếng với sự uyên bác về kinh điển và tinh thần khổ luyện trong việc thực hành Pháp. Ngài dành phần lớn cuộc đời để nghiên cứu, giảng dạy và biên soạn các tác phẩm luận giải quan trọng, nhằm làm sáng tỏ nhiều vấn đề triết học và thực hành trong Phật học. Một trong những trước tác tiêu biểu của ngài là “Lamrim Chenmo”, tác phẩm hướng dẫn con đường tu tập theo trình tự, từ những bước căn bản đến các phương tiện thiện xảo sâu xa, giúp hành giả bước vào con đường giác ngộ.
Sự nghiệp của Đại sư Tsongkhapa không chỉ dừng lại ở việc truyền bá giáo lý, mà còn thể hiện qua việc cải tổ giới luật, nhấn mạnh vào việc tu tập giới hạnh nghiêm túc, thúc đẩy tầm quan trọng của trí tuệ và lòng từ bi. Ảnh hưởng của ngài trải dài qua nhiều thế kỷ, được duy trì và phát triển bởi các thế hệ đệ tử, trong đó có các vị Đạt-lai Lạt-ma và Ban-thiền Lạt-ma sau này.
Tóm lại, Đại sư Tsongkhapa là một bậc thầy uyên thâm và có đóng góp to lớn cho sự định hình và phát triển của truyền thống Gelug trong Phật giáo Tây Tạng, để lại di sản tư tưởng, công trình nghiên cứu, cũng như phương pháp thực hành sâu sắc cho các hành giả đời sau.
Mục lục:
Lời Giới Thiệu. 13
Phần 1: Cuộc Đời, Giải Thoát, Và Thành Tựu. 19
- Tiểu Sử Ngắn. 21
- Định Mệnh Viên Thành. 49
- Bài Ca Về Những Kinh Nghiệm Huyền Diệu Của Lama Jé Rinpoche 59
Phần 2 Giai Trình Đạo Lộ Giác Ngộ. 69
- Ba Yếu Tố Chủ Đạo Của Đạo Lộ. 73
- Dòng Kinh Nghiệm.. 79
- Lá Thư Chỉ Dẫn Thực Tiễn Về Kinh Và Mật. 89
- Lời Nguyện Thiện Hảo Đầu, Giữa Và Cuối 115
Phần 3: Triết Học Trung Quán: Thiền Quán Về Tuệ Giải Thoát. 123
- Tán Thán Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Vì Ngài Đã Giảng Về Tính Tương Đối (Duyên Khởi) 127
- Trung Phẩm Bát-Nhã. 139
- Các Điều Kiện Cần Thiết Để Đạt Đến Quán Siêu Việt. 149
Phần 4: Tán Tụng, Nguyện Cầu, Và Cuộc Đối Thoại Thần Bí 213
- Hải Vân Tán Đức Thượng Sư Văn-Thù-Sư-Lợi 217
- Phạm Thiên Quán Đảnh — Tán Dương Bồ Tát Di Lặc. 231
- Nguyện Vãng Sinh Cực Lạc. 243
- Chuỗi Cam Lộ Tối Thượng Chữa Lành. 253
Phần 5: Kệ Tán Và Khải Thỉnh. 271
Ghi Chú. 303
Đoạn Trích từ Tác Phẩm:
LÁ THƯ CHỈ DẪN THỰC TIỄN VỀ KINH VÀ MẬT
(Lam gyi rim-pa mdo tsam du bstan pa)
Chỉ Dẫn Khái Lược về “Giai Trình Đạo Lộ”
Kính lễ Bổn Sư Văn-thù-sư-lợi (Mañjughoṣa)
Mong rằng con thường được Ngài bảo hộ, bậc Đạo Sư vô song về Chánh Pháp. Trí tuệ vô lượng, vô ngại của Ngài có thể thấu triệt tới những vi tế pháp tướng. Sở dĩ như thế, chính do từ thuở xa xưa Ngài đã được dẫn nhập vào vô lượng thiện hạnh cùng bao phương tiện thù thắng, và trong nhiều niên kỷ, Ngài đã kết hợp tài tình trí tuệ uyên thâm quán thông Tánh Không với muôn phương tiện khéo léo. Nguyện dưới ân đức của Ngài, hạt giống chân thật nơi tâm con được vun bồi.
Hỡi ôi, vị Thượng Sư tâm linh cao quý, cũng là bậc thiện tri thức khả kính của con! Thuở ban sơ, Ngài ra công tinh cần thọ trì, nghe và học vô lượng kinh giáo. Rồi Ngài quảng diễn giáo pháp bằng vô lượng thiện xảo ngôn từ. Cuối cùng, qua trường kỳ chuyên cần, Ngài đã nỗ lực chứng thực pháp hành trong thực tiễn. Nguyện bàn chân thánh thiện của Ngài trụ vững qua trường kiếp!
Con nay, kẻ hậu học bất tài, vừa được tiếp nhận bức thư bảo châu tuyệt diệu của Ngài, kèm theo những phẩm vật thanh tao (mà Ngài đã trao tặng), biểu lộ ý niệm từ ái bất diệt của Ngài đối với con. Dẫu con đã từng đọc những phần giải thích minh bạch khả dĩ làm sáng tỏ đạo lộ (trước đó), nhưng tâm ý con tựa biển cả[53] vẫn chưa kham đủ với mưa pháp vừa đổ xuống từ cụm mây đại thiện tri thức. Bởi thế, Ngài lại thỉnh cầu con trình bày thêm một bức thư khải thị thực hành, hầu ứng dụng vào hai giai đoạn (của Mật Thừa thượng đẳng vô song) [54]. Tâm lượng con nông cạn, như ao nước nhỏ chỉ cần đôi chút nước suối rì rào đã tràn đầy, đối lại tâm ý cao minh quảng đại của bậc như Ngài, vốn mênh mông vô biên, dẫu đã có vô số giải thích tinh yếu, vẫn chưa thoả nguyện.[55] Quả thật, nỗ lực của con viết ra đôi lời này, trộm mong làm chút ích lợi khiêm tốn.
Tuy nhiên, dẫu con ý thức rõ bản thân tầm thường, kém cỏi, hẳn thực khó mà ban bố lời giúp an tâm cho bậc Đại Sư tôn quý như Ngài. Con vốn nghe ít, học ít, trí huệ ám độn, sự tu tập Pháp hành mỏng manh. Dẫu có đôi câu trong tâm, con lại buông lung, ít nương theo ý nghĩa sâu xa của giáo pháp. Song, ví như hạt bồ công anh[56] tầm thường, nhờ cơn gió thuận mà có thể tung bay cạnh chim đại bàng, con nay nương nơi lời khích lệ cao cả của Ngài mà mạo muội dâng vài ý kiến giản lược.
Thế thì, đối với hạng hèn hạ như con, nay đã gặp được thân người đầy đủ các thuận duyên (tựu thành đủ loại tự do và thắng duyên để tu học Chánh Pháp), lại tri ngộ chân giáo của chư Phật Thế Tôn, được dẫn dắt bởi chư Thượng Sư siêu việt. Gặp hoàn cảnh hy hữu này, với năng lực phân biệt thiện ác rõ ràng, chúng ta nhất định phải triệt để lợi dụng cơ hội bất khả tư nghì này. Tất cả đều tùy thuộc vào việc chúng ta thực sự dấn thân tu Phật đạo. Song nếu chỉ ôm tư tưởng thiện mà không biết chắc đường lối ứng xử, ắt chẳng đủ. Chúng ta hoặc tự mình phải minh triết, không một chút mơ hồ, về pháp môn nhập đạo, hoặc quyết định nương vào bậc minh sư biết tường tận ấy.
Hơn thế nữa, chẳng phải mọi vị thầy đều tương hợp. Bậc thầy đích thực ắt là người thiện xảo, hiểu rõ thể tướng đạo lộ, rành mạch thứ tự giai trình và căn cơ đệ tử. Bởi nếu lầm lẫn tà đạo thành chánh lộ, hoặc tráo ngược thứ lớp tu chứng, thì dầu chúng ta có khổ công chứng đắc điều lầm lạc, kết quả cũng chẳng đạt cứu cánh. Ví như được kê sai dược phương, chẳng những không lợi ích mà còn hại thân. Vì vậy, cần bậc thầy phân minh, biết “đếm số” giai trình (chỉ rõ từng bậc tu chứng), để ta khỏi rơi vào tri kiến sai lạc.
Nhưng dù vị thầy có biết bản chất đạo lộ và số lượng chi tiết các giai đoạn, nếu không rành đâu là điểm cần áp dụng trong quá trình dẫn dắt tâm hành giả từ sơ khởi đến trung gian rồi chung cục, thì vị ấy giống như vị y sĩ cầm trong tay dược phẩm thù thắng nhất, nhưng kê đơn cho người chẳng hợp bệnh. Thuốc cực mạnh mà ứng sai căn cơ, chẳng những không cứu, còn có thể giết chết bệnh nhân. Lại như thấy có Pháp bảo thâm sâu, nghĩ rằng “Pháp này đã cực diệu, dạy cho ai cũng được,” nhưng nếu không xét trình độ căn cơ mà truyền, người tiếp nhận chẳng kham, có khi mất cơ hội chứng đắc Niết-bàn, giải thoát. Cho nên, việc vị thầy hiểu thứ tự giai trình giáo pháp và căn cơ đệ tử hết sức trọng yếu.
Lại nữa, dù bậc thầy thiện xảo ở những điểm trọng yếu thực hành, cũng cần có sự chứng đắc niềm tin xác quyết với trọn vẹn hành trình đạo lộ. Điều này phải do chính thầy thể nghiệm, đích thân nối truyền từ bậc Thánh giả, y như người đã đọc kỹ đại tạng kinh điển do các chân tác giả biên soạn. Những chỉ dẫn lược yếu (guideline instructions) trong đây chẳng phải ngẫu nhiên, mà đúc kết tinh tuý từ những Đại Kinh Điển. Thật ra, ý nghĩa đích thực của những “chỉ nam tu tập” chính là giúp ta lĩnh hội tinh yếu từ Đại Kinh điển, vốn mênh mông quảng đại, nghĩa lý thâm áo, khó lãnh hội, đôi khi sắp xếp thứ tự giảng dạy cực kỳ nan giải. Nay nhờ những lược yếu ấy, ta đối với tinh nghĩa của kinh điển chẳng còn ngần ngại, và có thể lấy các Đại Kinh làm Pháp giảng, lấy chỉ nam lược yếu làm Pháp hành, hợp nhất lưỡng đức. Nếu chẳng nắm được trọng yếu và ý chỉ của sự kết hợp này, ắt không hiểu ý nghĩa tối hậu của giáo huấn.
Đức Bổn Sư Thích Ca từng dạy (như kinh luận Ấn Độ có biện giải), các thánh ngôn của Ngài – ta hãy nên “nghe, tư duy, trạch pháp, tinh cần thực hành”[53] – để hướng đến chân tu, không phải chỉ vì luận biện suông. Như Ngài Long Thọ trong “Thư Gởi Bạn Hiền” (The Friendly Letter) nói: “Hỡi người lìa sợ hãi, vốn không cần ta nói nhiều, nhưng đôi lời thiết yếu: Hãy nhiếp tâm![54]” Đức Như Lai cũng dạy: “Tâm là căn nguyên của mọi hành trì Pháp.” Như Ngài Thánh Thiên (Aryadeva) trong “Tứ Bách Kệ” nói: “Bởi ta chẳng thể thấy hành nghiệp (thiện ác) ngoại trừ qua ý niệm dẫn đạo, nên tâm vốn đi trước hết thảy công hạnh.”[55]
Thông tin về cuốn sách:
Tên sách | Cuộc Đời Và Giáo Pháp Của Tsongkhapa |
Tác giả | Tsongkhapa – Chuyển ngữ: Padma Lotsawa |
Giá | 260.000đ |
Số trang | 406 |
Nhà xuất bản | Padma Publishing |
Khổ | 14,5 x 20 cm |
Barcode | 9785790645327 ISBN 978-1-61429-427-6 |
Thông tin
Trọng lượng | 0,2 kg |
---|---|
Kích thước | 20 × 14,5 × 3 cm |